Always beside the people
Hotline in Vietnam: (+84).4.3733.95.86

Nghiên cứu trao đổi

Trong những năm gần đây, vì chạy theo nhu cầu phát triển kinh tế gia đình mà nhiều người dân đã vô tình hủy hoại hàng chục héc-ta rừng phòng hộ, để lại hậu quả nặng nề cho môi trường và đời sống con người. Sự thiếu hiểu biết này đã khiến họ rơi vào vòng lao lý. Hiện tại, ngoài những quy định của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Thông tư liên ngành số 19/TTLN/BNN-BTP-BCA – VKSNDTC-TANDTC ngày 08 tháng 3 năm 2007 về một số tội phạm liên quan đến lĩnh vực quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thì quy định của Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản đã giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng xử lý nhanh và hiệu quả các hành vi phạm tội liên quan[1].

I. Khuổn khổ pháp lý về trợ giúp pháp lý cho nạn nhân bạo lực giới

Trợ giúp pháp lý là việc giúp đỡ pháp lý (tư vấn pháp luật, hòa giải, đại diện, bào chữa, kiến nghị) miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo và đối tượng chính sách theo quy định của pháp luật nhằm giải toả vướng mắc pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật để họ tự mình biết cách ứng xử phù hợp với pháp luật, thực hiện pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo đảm công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Luật Trợ giúp pháp lý được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006, có hiệu lực từ ngày 01/01/2007. Lần đầu tiên, Luật quy định việc kiến nghị những vấn đề liên quan đến thi hành pháp luật là quyền đồng thời là nghĩa vụ của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý (TGPL). Cụ thể hóa các quy định của Luật về vấn đề kiến nghị liên quan đến thi hành pháp luật, Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ đã xác định hoạt động kiến nghị thi hành pháp luật thông qua TGPL bao gồm ba hình thức: kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết lại vụ việc của người được TGPL; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết về việc thi hành pháp luật của cán bộ, công chức khi phát hiện cán bộ, công chức cố tình làm sai, vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của người được TGPL và kiến nghị sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật khi phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với thực tiễn.

Cam Lộ, Quảng Trị, mảnh đất khi nhắc tới, không ai không khỏi nhức nhối trước tội ác của giặc Mỹ. Trong chiến tranh, đây là "túi" hứng chất độc hóa học của Mỹ rải xuống. Chất độc da cam/dioxin đã hủy hoại hạnh phúc của bao gia đình. Trong một đợt TGPL lưu động tại xã Gio Mỹ - Gio Linh - Quảng Trị, Trung tâm TGPLNN tỉnh Quảng Trị nhận được đơn yêu cầu của ông Nguyễn Đăng K với nội dung:

Trong thời gian gần đây, Bình Dương đã xảy ra một vụ việc thương tâm, đó là cha dượng và mẹ ruột đánh đập con tàn nhẫn dẫn đến cháu bé bị thương tích, nhập viện trong tình trạng não bị chấn thương. Cháu bé đó chính là cháu Trần Thị Kim Ngân, cư trú tại phường Bình An, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, hiện đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương.

Thời gian gần đây, dư luận bao phen phẫn nộ trước tình trạng những vụ bạo hành trẻ em liên tiếp xảy ra ở đủ mọi lứa tuổi. Chưa bao giờ, dư luận lại dậy sóng, bức xúc trước vấn đề bạo hành trẻ em như lúc này. Có một điều không thể phủ nhận là những đứa trẻ bị bạo hành chịu ảnh hưởng rất lớn về tinh thần lẫn thể chất. Xuất phát từ quan niệm của người lớn về giáo dục trẻ bằng “yêu cho roi cho vọt” chính là mắt xích gây ra những sự việc này. Hãy cùng trở lại một vụ án bạo hành trẻ em, để nhận diện rõ hơn vai trò của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức trong công cuộc đẩy lùi nạn bạo hành đối với trẻ em.

Năm 1984, bà H có nhận chuyển nhượng của bà K phần đất rẫy có diện tích 972m2 (chiều ngang 27m, chiều dài 36m), tọa lạc tại ấp Ph , xã T, huyện C, tỉnh S. Trong thời gian này, ông Châu Minh Đ là là cán bộ xã T đã lấn chiếm luôn phần đất của bà H. Ngày 13/01/1987, UBND xã T giải quyết vụ việc theo hướng sẽ giao phần đất khác cho bà H, còn phần đất mà ông Đ đang lấn chiếm của bà H thì ông Đ tiếp tục được sử dụng. Bà H vui mừng, phấn khởi, háo hức chờ đến ngày được giao đất mới. Nhưng lời hứa ấy của UBND xã T mãi không thành hiện thực. Bà H tiếp tục khiếu nại. Việc khiếu nại tuy kéo dài ròng rã nhiều năm nhưng bà quyết tâm đòi lại bằng được phần đất mà ông Đ đã lấn chiếm của bà H. Trong quá trình khiếu nại, bà phát hiện ra bà Trần Thị N, vợ ông Đ đã tự ý kê khai và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2006, bà H làm đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện M.

Trong vòng 20 năm qua, Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất. Tuy nhiên, để đạt được bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ thì còn “đường xa vạn dặm”. Tư tưởng trọng nam khinh nữ, sinh con trai nối dõi tông đường, tồn tại trong đời sống xã hội Á Đông hàng nghìn năm từ thời phong kiến cho đến nay là rào cản, quan ngại lớn nhất trên chặng đường tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng giới giữa nam và nữ, đặc biệt là trong gia đình.

Nhằm tạo điều kiện và cải thiện việc tiếp cận dịch vụ y tế (DVYT) cho người nghèo, năm 2002 Chính phủ đã ban hành Quyết định 139/2002/QĐ-TTg về việc thành lập Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo. Quyết định này đánh dấu bước ngoặt trong công tác khám chữa bệnh và khẳng định sự quan tâm của Chính phủ dành cho nhóm người yếu thế trong xã hội. Đây là bước tiến quan trọng trong việc xác định cụ thể nguồn kinh phí dành cho công tác khám chữa bệnh cho người nghèo. Tuy nhiên, các quy trình, thủ tục cấp phát thẻ BHYT là một rào cản không nhỏ đối với người nghèo trong việc sử dụng DVYT. Quá trình triển khai Quyết định 139 cho thấy số thẻ sai sót tên, ngày sinh, địa chỉ... hoặc người nghèo không được cấp phát thẻ chiếm tỷ lệ đáng kể. Việc cấp phát thẻ còn khó khăn nên một số nơi thẻ BHYT không được phát đến tận tay người nghèo. Các rào cản thủ tục hành chính này làm hạn chế khả năng sử dụng DVYT của người nghèo.

Ông Nguyễn Văn Th, quê quán tại xã L, huyện P, tỉnh V, là anh con bác của liệt sĩ chống Mỹ Nguyễn Văn C, có bố là Nguyễn Văn X (mất năm 1951) và mẹ là Nguyễn Thị D (mất năm 1954). Liệt sĩ C là em út trong gia đình có ba anh em. Sau khi bố mẹ qua đời, ba anh em phải phiêu bạt mỗi người một phương. Năm 1955, người anh cả đi Tuyên Quang, người chị thứ hai ở với chị gái của ông Th và liệt sĩ C ở với ông Th.

Pages