Always beside the people
Hotline in Vietnam: (+84).4.3733.95.86

Vai trò của Trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng dân sự

Wed, 06/11/2019 - 09:55 -- phuongthao

Trợ giúp viên pháp lý là chức danh nghề nghiệp đặc thù có kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm để tham gia bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người thuộc diện được TGPL, có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng, góp phần thực hiện mục tiêu cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

 Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy chung của xu thế toàn cầu hoá, vai trò của Trợ giúp viên pháp lý trong các lĩnh vực pháp luật nói chung cũng như vai trò của Trợ giúp viên pháp lý trong  tố tụng dân sự là không thể thiếu được trong xã hội và ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bài viết này đề cập về các quy định của pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh hoạt động của Trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng dân sự nhằm làm rõ hơn vai trò của Trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng dân sự (TTDS).

1. Quy định về các nguyên tắc của tố tụng dân sự có liên quan trực tiếp đến Trợ giúp viên pháp lý

Chế định TGPL đã được ghi nhận và được bảo đảm trong nguyên tắc của TTDS. Khoản 3 Điều 9 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã ghi nhận nguyên tắc: Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm TGPL cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án (khoản 3 Điều 9 BLTTDS 2015). Có thể nói đây là nguyên tắc quan trọng đối với chế định TGPL. Để bảo đảm nguyên tắc này, BLTTDS 2015 đã quy định một số quy định như: ghi nhận chức danh Trợ giúp viên pháp lý là một trong những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 75 BLTTDS 2015), quy định Thẩm phán có trách nhiệm “giải thích, hướng dẫn cho đương sự biết để họ thực hiện quyền được yêu cầu TGPL theo quy định của pháp luật về TGPL” (Điều 48 BLTTDS 2015).Như vậy, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụngcó trách nhiệm bảo đảm cho những đối tượng thuộc diện được TGPL có quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án. Thẩm phán thông qua nhiều hình thức để đương sự có thể tiếp cận được với quyền TGPL như giải thích cho đương sự về quyền được TGPL, thông báo cho Trung tâm TGPL trong trường hợp họ có yêu cầu[1]… Vai trò của Thẩm phán được nhấn mạnh trong việc bảo đảm quyền TGPL của người dân, góp phần đảm bảo quyền cơ bản của con người, quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tiếp cận công lý.

2. Vai trò của Trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng dân sự

a. Trợ giúp viên pháp lý với vai trò là người đại diện trong tố tụng dân sự

Hiện nay, Trợ giúp viên pháp lý không còn tư cách người đại diện. Trước đây,  Trợ giúp viên pháp lý tham gia TTDS với 02 tư cách (1) người đại diện; (2) người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (theo Luật TGPL 2006). Tuy nhiên, kể từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 ghi nhận Trợ giúp viên pháp lý là một trong những người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự thì Trợ giúp viên pháp lý không còn tư cách người đại diện nữa.

Việc không quy định tư cách người đại diện của Trợ giúp viên pháp lý, có nguyên nhân do nhiều trường hợp Trợ giúp viên pháp lý là người đại diện trong tố tụng dân sự nhưng không thể quyết định thay đương sự được.Người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định tại BLTTDS năm 2015 tại Việt Nam, là hai khái niệm khác nhau, có tư cách tố tụng khác nhau, các quyền và nghĩa vụ không trùng khớp với nhau. Người đại diện là người tham gia tố tụng thay mặt cho đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người đại diện theo ủy quyền của đương sự tham gia tố tụng cũng nhằm mục đích chính là nhân danh và thay mặt người được đại diện (đương sự) bảo vệ quyền và lợi ích của chính người được đại diện, thực hiện các quyền,nghĩa vụ tố tụng dân sự trong phạm vi ủy quyền. Trong khi đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng song song cùng với đương sự. Khi tham gia tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có vị trí pháp lý độc lập với đương sự, không bị ràng buộc bởi việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự như người đại diện.Bản chất của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là giúp đỡ đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong TTDS. Trợ giúp viên pháp lý không trực tiếp tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự, chỉ giúp đỡ đương sự về mặt pháp lý, giúp đỡ đương sự thực hiện quyền và lợi ích của họ.

Vì vậy, tư cách người đại diện của Trợ giúp viên pháp lý chỉ tồn tại trong khoảng thời gian từ khi Luật TGPL 2006 có hiệu lực (01/01/2007) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011 có hiệu lực (hết ngày 01/01/2012).

b. Trợ giúp viên pháp lý với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

b1) Quy định về vai trò của Trợ giúp viên pháp lý với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự

Trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có một một số đặc điểm sau:

Thứ nhất,Trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vừa phải đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn về Trợ giúp viên pháp lý và quy trình cử người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật TGPL, vừa đáp ứng điều kiện về người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật TTDS.

Thứ hai, đương sự được Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích phải là người được TGPL theo quy định của pháp luật TGPL.

Thứ ba, phạm vi giải quyết vụ án dân sự của Trợ giúp viên pháp lý theo quy định của pháp luật TGPL, nghĩa là Trợ giúp viên pháp lý sẽ không được tham gia các vụ án kinh doanh, thương mại.

Thứ  tư, đương sự không phải trả thù lao cho Trợ giúp viên pháp lý khi có yêu cầu TGPL.

(b2) Điều kiện để làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Theo quy định của BLTTDS 2015, Trợ giúp viên pháp lý là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có các điều kiện sau: (1) có yêu cầu của đương sự và (2) được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Nghĩa là khi Trung tâm TGPL nhận được yêu cầu TGPL của đương sự, Trung tâm TGPL nhà nước sẽ cử Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng và đồng thời, Trợ giúp viên pháp lý phải đáp ứng được các điều kiện để được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của BLTTDS 2015.

Thủ tục để trở thành người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định của BLTTDS 2015 đã đơn giản hóa hơn rất nhiều so với quy định của BLTTDS 2004. Thủ tục được công nhận là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được chuyển từ cấp giấy chứng nhận thành đăng ký. Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

 

 (b3) Quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

Khi tham gia tố tụng với vai trò là người bảo vệ quyền lợi của đương sự, Trợ giúp viên pháp lý có vị trí pháp lý tương đối độc lập với đương sự. Đương sự phải cùng với Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền lợi của mình tham gia tố tụng trước Tòa án. Quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được thể hiện qua 03 giai đoạn (giai đoạn trước khi mở phiên tòa, giai đoạn mở phiên tòa, giai đoạn sau khi kết thúc phiên tòa) và trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thứ nhất, các quyền và nghĩa vụ chung:

(i) Tham gia tố tụng từ khi khởi kiện hoặc bất cứ giai đoạn nào trong quá trình TTDS.

(ii) Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự.

(iii) Tôn trọng Tòa án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa;

(iv) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp hành quyết định của Tòa án trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc;

(v) Đề nghị Tòa án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;

(vi) Có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.

(vii) Tham gia phiên họp: Đây là một trong những quy định mới của BLTTDS 2015 so với BLTTDS 2004.  Trợ giúp viên pháp lý được tham gia các phiên họp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong một số phiên họp như: phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải (Điều 208, 209), phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện (Điều 194), Phiên họp xem xét kháng cáo quá hạn (Điều 275), phiên họp phúc thẩm (Điều 314); và một số phiên họp khác khi được mời như: phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới (Điều 358), …Trường hợp không tham gia được phiên họp thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét.

(ix) Quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.

Thứ hai, Trợ giúp viên pháp lý trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án

Ở giai đoạn này, Trợ giúp viên pháp lý đưa ra lời tư vấn về tính khả thi về vấn đề, yêu cầu của đương sự muốn giải quyết tại Tòa án. Cùng lúc đó, Trợ giúp viên pháp lý kiểm tra, đối chiếu những dữ liệu, tài liệu mà đương sự cung cấp, nghiên cứu và chuẩn bị các giấy tờ, hồ sơ cần thiết để tư vấn cho đương sự một cách giải quyết phù hợp nhất với quy định của pháp luật và tốt nhất cho yêu cầu của đương sự.

Trợ giúp viên pháp lý tư vấn cho đương sự chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và đơn khởi kiện, cùng đương sự chuẩn bị những tài liệu, điều kiện cần thiết để Tòa án thụ lý vụ việc. Nhiều trường hợp do không chuẩn bị tốt những điều này khiến cho việc thụ lý vụ án khó khăn và phức tạp. Trợ giúp viên pháp lý tham gia ngay từ đầu vụ án sẽ giúp đương sự khắc phục được những hạn chế để đảm bảo quyền khởi kiện, yêu cầu của đương sự.

Nhiều trường hợp do không chuẩn bị tốt những điều này khiến cho việc thụ lý vụ án khó khăn và phức tạp. Trợ giúp viên pháp lý tham gia ngay từ đầu vụ án sẽ giúp đương sự khắc phục được những hạn chế để đảm bảo quyền khởi kiện, yêu cầu của đương sự.

Thứ ba, quyền và nghĩa vụ trong giai đoạn trước khi mở phiên tòa

(i) Quyền thu thập chứng cứ

Trợ giúp viên pháp lý được quyền thu thập và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trừ tài liệu, chứng cứ có liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Trợ giúp viên pháp lý có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự.

Để thu thập chứng cứ, Trợ giúp viên pháp lý có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ. Nhưng trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được, Trợ giúp viên pháp lý có thể đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp cho mình hoặc đề nghị Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn. Trợ giúp viên pháp lý có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập (trừ tài liệu, chứng cứ không được công khai); yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình. Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chủ động thu thập chứng cứ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

(ii) Được thông báo về thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải và tham gia việc hòa giải:

Trong những vụ án được tiến hành hòa giải, Trợ giúp viên pháp lý được thông báo về thời gian, địa điểm tiến hành hòa giải và tham gia việc hòa giải để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cùng với đương sự thương thảo vụ việc. Trường hợp không tham gia thì Trợ giúp viên pháp lý được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét.

Thứ tư, quyền và nghĩa vụ trong giai đoạn mở phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm

Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được Trợ giúp viên pháp lý thực hiện ở quy trình: bắt đầu phiên tòa, thủ tục hỏi, thủ tục tranh luận tại phiên tòa tại cả 2 cấp sơ thẩm và phúc thẩm.

 (i) Thủ tục bắt đầu phiên tòa

Trợ giúp viên pháp lý tham gia phiên tòa hoặc trường hợp không tham gia thì được gửi văn bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cho Tòa án xem xét.  Trường hợp Trợ giúp viên pháp lý vắng mặt tại phiên tòa khi triệu tập hợp lệ của Tòa án lần thứ nhất thì Tòa án hoãn phiên tòa. Nếu Trợ giúp viên pháp lý vắng mặt khi triệu tập hợp lệ của Tòa án lần thứ hai thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Trợ giúp viên pháp lý được Tòa án thông báo khi hoãn phiên tòa.

Trợ giúp viên pháp lýthay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

 (ii) Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa

Trong thủ tục này, Trợ giúp viên pháp lý có quyền trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để giúp đương sự bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác. Cụ thể:

Trợ giúp viên pháp lý của nguyên đơn trình bày về yêu cầu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp. Trợ giúp viên pháp lý của bị đơn có quyền trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Trợ giúp viên pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp.

Trợ giúp viên pháp lý có quyền đưa ra tài liệu, chứng cứ trong trường hợp mới biết được trong quá trình giải quyết vụ việc theo thủ tục sơ thẩm và giao nộp, trình bày tại phiên tòa sơ thẩm, phiên họp giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng tiếp theo của việc giải quyết vụ việc dân sự.

Trợ giúp viên pháp lý đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng.

Trợ giúp viên pháp lý tranh luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng; đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, đáp lại ý kiến của người khác. Nếu thấy đã tranh luận về các vẫn đề nhưng vẫn chưa rõ hoặc chưa khẳng định được những tình tiết của vụ việc thì Trợ giúp viên pháp lý có thể đề nghị Hội đồng xét xử quay lại thủ tục hỏi.

Trợ giúp viên pháp lý đề nghị Tòa án tạm đình chỉ giải quyết vụ việc theo quy định của BLTTDS.

Thứ năm, quyền và nghĩa vụ tại giai đoạn sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm

(i) Kết thúc phiên tòa cấp sơ thẩm:

Trợ giúp viên pháp lý có quyền được xem biên bản và có quyền yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản. Đây là một quyền rất quan trọng để nhằm ghi chép đầy đủ, khách quan về phiên tòa, phát hiện những sai lầm để kiến nghị sửa chữa, bổ sung, nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của đương sự.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, Tòa án cấp trích lục bản án và trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Trợ giúp viên pháp lý chủ động đề nghị với Tòa án để nhận được bản án nhằm giúp thân chủ nắm bắt được quyền và nghĩa vụ của họ trong bản án. Từ đó có thể giúp đương sự kháng cáo đúng thời hạn.

(ii) Kết thúc phiên tòa cấp phúc thẩm:

Trợ giúp viên pháp lý có quyền được xem biên bản và có quyền yêu cầu sửa chữa, bổ sung biên bản. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra bản án, quyết định phúc thẩm,Trợ giúp viên pháp lý chủ động đề nghị với Tòa án để nhận được bản án, quyết định phúc thẩmcủa Tòa án cấp phúc thẩm nhằm giúp thân chủ nắm bắt được quyền và nghĩa vụ của họ trong bản án.

Thứ sáu, quyền và nghĩa vụ của Trợ giúp viên pháp lý với vai trò là người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự tại thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

(i) Thủ tục giám đốc thẩm         

Theo quy định, trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị của BLTTDS để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Như vậy, đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị của BLTTDS để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Căn cứ vào đơn khiếu nại, người có thẩm quyền kháng nghị sẽ xem xét, quyết định về việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hay không.

Tại giai đoạn này, Trợ giúp viên pháp lý khi có đủ căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và tư vấn cho đương sự làm đơn đề nghị với người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý có quyền thu thập chứng cứ để giúp đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý có mặt tại phiên tòa giám đốc thẩm trong trường hợp được Tòa án triệu tập, được trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu.

 (ii) Thủ tục tái thẩm

Tương tự như thủ tục giám đốc thẩm, Trợ giúp viên pháp lý khi thấy có đủ căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm thì tư vấn cho đương sự thông báo với người có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý có quyền thu thập chứng cứ và cung cấp tài liệu, chứng cứ để giúp đương sự cung cấp cho người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý có mặt tại phiên tòa tái thẩm trong trường hợp được Tòa án triệu tập, được trình bày ý kiến về những vấn đề mà Hội đồng tái thẩm yêu cầu.

Như vậy, qua việc nghiên cứu các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về Trợ giúp viên pháp lý trong TTDS, bài viết đã làm rõ quy định pháp luật hiện hành về quyền và nghĩa vụ cụ thể của Trợ giúp viên pháp lý qua các giai đoạn tố tụng. Việc nghiên cứu chi tiết các hoạt động cụ thể của Trợ giúp viên pháp lý thể hiện qua các giai đoạn TTDS tại Tòa án, giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ hơn về vai trò của Trợ giúp viên pháp lý trong TTDS./.

 Thanh Hà 

Cục Trợ giúp pháp lý

 

 


[1]Được cụ thể hóa tại Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT-BTP-BCA-BQP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 29-6-2018 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định về phối hợp thực hiện trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng

 

Loại bài viết: